Ấp Thành Công · xã Điền Thành · quận Hương Điền · tỉnh Thừa Thiên
Trang đầu cuốn sách là lời tựa viết tay bằng quốc ngữ, đề ngày 29 tháng 3 năm 1970. Sách tự gọi mình là “Gia phổ”. Nguyên văn: “Chúng tôi là họ Lê công ấp Thành công xã Điền Thành Quận Hương-điền tỉnh Thừa Thiên, trưởng chi: Lê công Tiếu, á chi: Lê công Huyên, đồng trai con cháu trong chi tất cả Hội đồng phụng thiên tu Gia phổ chữ Hán dịch ra chữ Quốc ngữ để lại về sau con cháu cứu xét thế hệ thứ vỵ rõ ràng, khỏi phải sai lầm. Nay phụng thiên tu.” Dưới cùng trang ký trưởng chi Lê công Tiếu · á chi Lê công Huyên · Hội đồng trai gái con cháu. Nửa phải trang còn mấy cột chữ Hán nối tiếp, nhưng bị mép ảnh cắt nên chưa đọc đủ.
Lời tựa cho biết ba điều mà chữ Hán trong sách không nói: cuốn này được dịch sang quốc ngữ năm 1970 — nên toàn bộ lớp bút xanh trong sách là chữ của năm đó; họ ở ấp Thành Công, xã Điền Thành, quận Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên; và người chủ trì là ông Tiếu (trưởng chi) cùng ông Huyên (á chi). Tài liệu này dựng mạch thẳng mười hai đời từ ông Lê Công Viết — người sách gọi là thủy tổ 始祖 — xuống tới đời chắt, kèm anh chị em các đời. Số đời lấy theo hai mốc “Đời 13” và “Đời 14” mà sách ghi ở lề; những đời sách không ghi số thì là đếm truyền xuống.
Đời 11 · mạch trực hệ — sách chỉ chép một người
Đời 12 · mạch trực hệ — sách chỉ chép một người
Đời 13 — con ông Điệt · sách chỉ chép một người
Đời 14 — con ông Dĩ · ba người, cùng một hàng · nhánh ông Hửu bên phải đã sổ ra đủ ba đời
Đời 15 — con ông Thích · chín người, cùng một hàng
Đời 16 — bảy người con ông Huệ · 公惠之子引下 · bốn trai, ba gái
Đời 17 — bảy người con ông Phù · 公符之子 · năm trai, hai gái
Đời 18 — bảy người con ông Tiếu · 生下
Đời 18 — mười ba người con ông Bút · 公筆之子 · chép ở rồi
Đời 19 — con ông Điêm
Đời 19 — con ông Thiêm
Đời 19 — con ông Thâu
Đời 18 — ba người con ông Đáp · 生下
Đời 17 — bảy người con ông Tiết · 公節之子 · năm trai, hai gái
Đời 18 — con ông Trợ · 生下
Đời 18 — sáu người con ông Phiên · 公番之子 chép Hán chép bút bi
Đời 19 — con ông Đệ
Đời 19 — con ông Diện
Đời 17 — con ông Tích · 公籍之子 · sách chỉ chép một người
Đời 18 — chín người con ông Soán · 公算之子 chép gọn chép chi tiết
Đời 19 — con ông Mông
Đời 20 — con ông Quý
Đời 20 — con ông Biết
Đời 19 — con ông Minh
Đời 20 — con ông Châu
Đời 19 — con ông Phụng
Đời 19 — con ông Thạnh
Đời 19 — con ông Sang
Đời 19 — con ông Hứt
Đời 16 — con ông Tòng · năm người 生下, cùng một hàng
Đời 17 — năm người con ông Nữu · 公杻之子
Đời 18 — năm người con ông Cơ · 生下 · hai trai, ba gái
Đời 19 — ba người con ông Sung · 生下 · cả ba đều do bút đỏ chép
Đời 19 — chín người con ông Kiệm · 公檢之子 · bảy người theo thứ bậc trong sách, hai người xếp cuối vì chưa rõ thứ tự
Đời 20 — ba người con · 生下 · bút xanh
Đời 21 — hai người con · bút bi, nét khác hẳn
Đời 20 — một người con · bút bi ở lề
Đời 20 — sáu người con · 生下 · bút xanh
Đời 21 — con ông Long · bút bi ở lề
Đời 17 — tám người con ông Bản · dãy chạy 一娘 → 二娘 三娘 一郎 → 二郎 三郎 四娘 → 五娘
Đời 18 — bảy người con ông Huyên · 生下 sinh hạ · ông Điếu là người thứ năm
Đời 19 · conCon trai thứ nhất 一郎
Đời 20 — cháu — sinh hạ 生下 · 5 người
Chữ Hán 銓 đọc là Thuyên. Lề sách ghi thẳng “con ông Hốt” — mối nối duy nhất trong nhánh mà chính sách nói ra.
Đời 21 · chắt — 7 người
Sách không ghi ông là con ai; người trong họ đã xác nhận đây cùng một người với con thứ tư ông Hốt.
Đời 21 · chắt — 2 người
Tên húy trong sách là Sách; trong nhà thường gọi ông Cội. Sách không ghi ông là con ai — mối nối do người trong họ cho biết.
Đời 21 · chắt — 3 người
Đời 19 · conCon trai thứ hai 二郎
Đời 20 — cháu — sinh hạ 生下 · 7 người
Ông là chủ hộ trong sách, tiêu đề trang đó ghi “con ông Trâm”. Lượt đọc đầu của tôi đọc sai thành “con ông Tam” và tên “Lê Công Phú”.
Đời 21 · chắt — 1 người
Đời 19 · conNăm người con gái 一娘 → 五娘
Đời 16 — bảy người con ông Võ · 公武之子 · năm trai, hai gái
Đời 17 — bốn người con gái ông Xuân · 生下
Đời 15 — năm người con ông Hửu · 公休 “con ông Hửu hồ xuống”
Đời 16 — mười người con ông Mạo · 翁帽生下 · năm trai, năm gái
Hôm nay tôi đã mở lại những trang chép mạch trực hệ ở độ phân giải gốc (3024 × 4032) và soi từng cột. Bốn cái tên trên mạch trước đây chỉ có từ lượt đọc ảnh thu nhỏ thì nay đọc được rõ ở cả chữ Hán và bút xanh:
Bốn chỗ tôi phải sửa lại chính bản đọc của mình:
Một chỗ còn vướng, tôi chưa giải thích được. Sách gọi ông Điệt là 顯高曾祖 hiển cao tằng tổ, ông Dĩ là 顯曾祖 hiển tằng tổ, ông Bản là 顯考 hiển khảo (cha) — thang bậc đó khớp nếu người viết là con ông Bản. Nhưng cả ông Thích và ông Tòng đều được ghi 顯祖 hiển tổ, mà hai ông là cha con. Hoặc chữ 顯祖 ở đây dùng lỏng theo nghĩa “tổ tiên” chung, hoặc có chỗ nào lệch một đời. Tôi để ngỏ, không tự chọn.
Nói cho sòng phẳng: phần đời 12 → 18 nay đã đọc ở ảnh gốc. Còn chữ húy ở đầu mục “con ông Điếu” thì vẫn không đọc được vì nét viết chồng lên dải hoa văn in — chỗ đó cần chụp lại thật gần, đèn chiếu xiên.
Trang đầu sách, viết tay bằng quốc ngữ. Đây là gốc của toàn bộ chữ bút xanh trong sách.
Ngày 29 tháng 3 năm 1970
Chúng tôi là họ Lê công ấp Thành công xã Điền Thành Quận Hương Điền tỉnh Thừa Thiên
trưởng chi: Lê công Tiếu, á chi: Lê công Huyên, đồng trai con cháu trong chi tất cảHội đồng phụng thiên tu Gia phổ chữ Hán dịch ra chữ Quốc ngữ để lại về sau con cháu cứu xét thế hệ thứ vị rõ ràng, khỏi phải sai lầm.
nay phụng thiên tu.
trưởng chi Lê công Tiếu · á chi Lê công Huyên · Hội đồng trai gái con cháu
Ba điều lời tựa cho biết, mà chữ Hán trong sách không nói: cuốn này được dịch sang quốc ngữ năm 1970 — nên lớp bút xanh khắp sách là của năm đó; họ ở ấp Thành Công, xã Điền Thành, quận Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên; và người chủ trì là ông Tiếu cùng ông Huyên.
Ông Lê Công Tiết cũng đời 16, nhưng cha là Lê Công Huệ, còn ông Bản cha là Lê Công Tòng — hai người khác cha. Nên mạch 34 người đọc được trong sách là họ hàng cùng đời, không nằm trên đường thẳng lên ông Điếu. Tôi vẫn giữ lại vì đó là người trong họ, nhưng đánh dấu rõ.
Con ông Tiết · bốn người
Sinh hạ 生下 · bốn người
Sinh hạ 生下 · sáu người
Mục riêng · sách mở lại tiêu đề 公籍之子 “con ông Tịch”
Sinh hạ 生下 · bảy người đọc được
Dưới bảy người này còn bốn tên viết bằng bút khác, mảnh hơn, thêm về sau: Lê thị Quyện, Lê công Thượng (ghi “chết”), Lê công Sang, Lê công Hểy — không có chữ Hán tương ứng. Đáy trang bị mép ảnh cắt nên cột này còn có thể dài hơn.
Tiếp đó · một tiêu đề nữa 公[?]之子 — chữ húy bị mép ảnh cắt, không đọc được
Sinh hạ 生下 · năm người
Sau danh sách này, sách còn hai người nữa là anh em của ông ở trên, không phải con: 二郎 hữu vị vô danh, và 一娘 giỗ 22 tháng chạp (tên bút xanh nhòe, không đọc được).
| Họ tên | Chữ Hán | Thứ bậc | Ngày giỗ | Năm sinh | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|
| Đời 16 — tiêu đề nhánh, lề trên sách · mục riêng | |||||
| Lê Công Bản | 黎公榜 | Đời 16 | Nhị lang | 16 tháng 4 | Mục riêng trong sách: 顯考黎公榜二郎. Tiêu đề 公榜 viết chồng lên dải hoa văn; bút xanh cả hai chỗ viết “Bản” (không có g). Âm Hán-Việt chuẩn của 榜 là “Bảng” — giữ cả hai cách đọc. Vợ chánh thất Nguyễn thị Hàm 阮氏金 |
| Đời 17 — tám người con ông Bản | |||||
| Lê thị Thụ | 黎氏樹 | nhất nương | 24 tháng chạp | Chữ Hán 樹 âm “thụ”, bút xanh phiên “Thọ” — giữ cả hai. Cột ngoài cùng trái sách, mở đầu dãy tám người con | |
| Lê thị Kha | 柯 | nhị nương | mồng 9 tháng 9 năm Kỷ Mùi | Tên do bút đỏ điền vào ô trống | |
| Lê thị Gia | 枷 | tam nương | mồng 9 tháng giêng năm Tân Dậu | Tên do bút đỏ điền vào ô trống | |
| Lê Công — tên chưa chốt | 黎公桓 ? | nhất lang | 12 tháng 5 năm Giáp Tý | Cha ông Điếu. Chữ húy bộ 木; bút đỏ phiên bắt đầu bằng “H” — có thể Huyên / Huyền / Hoàn | |
| Vũ thị Thiện | 武氏善 | Mẹ ông Điếu. Chánh thất 正堂; sách không ghi ngày giỗ | |||
| Lê công — không tên | nhị lang | 14 tháng 6 | Hữu vị vô danh | ||
| Lê công — không tên | tam lang | mồng 5 tháng 12 | Hữu vị vô danh | ||
| Lê thị — không tên | tứ nương | chánh kỵ 19 tháng 9 | Hữu vị vô danh | ||
| Lê thị — không tên | ngũ nương | 18 tháng 9 (Hán) / 28 tháng 9 (bút xanh) | Hữu vị vô danh; hai lớp bút lệch nhau | ||
| Đời 18 — bảy người con ông Huyên · ông Điếu là người thứ năm | |||||
| Lê thị Chu | 氏杼 | Con thứ 1 | Chữ 氏 nét đen gốc; chữ húy 杼 (âm “trữ”) và phiên âm “Chu.” đều do bút đỏ điền vào ô để trống | ||
| Lê công Hửu | 公 + 木有 (?) | Con thứ 2 | Chữ húy nét đen gốc, chữ Nôm bộ 木; bút xanh phiên “Hửu”, rồi mới chua thêm 有名 “hữu danh vô vỵ”. Bản đọc cũ tưởng “Hửu” là âm đầu của cụm đó — sai | ||
| Lê công — không tên | 公有名 | Con thứ 3 | Chỉ có 公 rồi 有名, không có chữ húy nào. Bút xanh phiên “công, hữu danh vô vỵ”. Ô tên bỏ trống, bút đỏ cũng không điền | ||
| Lê thị Duật | 氏樨 (木+聿) | Con thứ 4 | Tên chắc nhất trong bảy anh chị em. Cả 氏 lẫn chữ húy đều nét đen gốc; bút xanh phiên “duật”, khớp phần biểu âm 聿; không có bút đỏ xen vào | ||
| Lê Công Điếu | 公榔 | Con thứ 5 | Cha của nhánh. Chữ húy 榔 (木+郎, âm “lang”) do bút đỏ điền; phiên âm bút đỏ viết “Điêu” không dấu sắc, người trong họ sửa thành “Điếu”. Ở sách chữ húy bị dải hoa văn in đè, không đọc được | ||
| Lê thị Lôi (?) | 氏 + 木日 | Con thứ 6 | Chữ 氏 nét đen; chữ húy do bút đỏ viết tràn xuống lề dưới vì cột hết chỗ. Phiên âm bút đỏ đọc như “Lôi” hoặc “Lơi”; bản đọc trước ghi “Tối”, rồi “Liễu” — chưa lượt nào chắc | ||
| Lê công Đong | 公 + 木旦 | Con thứ 7 | Con út. Chữ 公 nét đen; chữ húy do bút đỏ viết ở lề dưới, cùng chỗ với chữ húy người thứ 6. Phiên âm “Đong”, cũng có thể “Đông” | ||
| Đời 19 — bảy người con ông Điếu | |||||
| Lê Công Hốt | 黎公笏 | nhất lang | 20 tháng 2 ÂL | Vợ: Hồ thị Liên | |
| Hồ thị Liên | 胡氏蓮 | nhất nương | Chánh thất ông Hốt | ||
| Lê Công Trâm | 黎公簪 | nhị lang | mồng 10 tháng 6 năm Ất Mùi | Sách ghi hai lần; bản sửa năm sinh từ Quý Tỵ thành Ất Mùi | |
| Hồ thị Nghi | Chánh thất ông Trâm; quê “Cường Giáng Đông” (bút chì mờ) | ||||
| Lê thị Thiêng | 黎氏? | nhất nương | kỵ 21/5 | Mất năm 2016; chữ húy bút đỏ mờ | |
| Lê thị Nhỏ | 黎氏? | nhị nương | Chữ húy bút đỏ mờ | ||
| Lê thị Thúy | 黎氏姶 | tam nương | 19 tháng Tư | Cũng có thể đọc “Thùy” | |
| Lê thị Bồng | 黎氏蓬 | tứ nương | 23 tháng 11 | ||
| Lê thị Hoa | 黎氏椛 | ngũ nương | mồng 7 tháng 6 năm Kỷ Mùi | Bút xanh lại ghi Quý Tỵ, 21 tháng giêng — hai nguồn lệch | |
| Đời 20 — con ông Hốt | |||||
| Lê Công Thuyên | 公銓 | Vợ: Ngô thị Thảo. Lề sách ghi “con ông Hốt”; 銓 đọc là Thuyên | |||
| Lê thị Lập | 氏立 | kỵ 21/3 | |||
| Lê thị Khôn | 氏坤 | Bút xanh viết “Nhơn” rồi gạch, bút đỏ sửa “Khôn” | |||
| Lê Công Sơn | 公山 | Vợ: Võ thị Thúy. Sách ghi ông ở hai chỗ; mối nối do người trong họ xác nhận | |||
| Lê Công Sách | 公策 | Thường gọi ông Cội. Vợ: Võ thị Bé. Mối nối sách do người trong họ cho biết | |||
| Đời 20 — con ông Trâm | |||||
| Lê Công Hai | nhất lang | 1979 | Chữ “Hai” viết mực nhạt khác hẳn — có thể điền sau | ||
| Lê thị Thanh Hà | nhất nương | 1981 | |||
| Lê Công Phúc | nhị lang (giả thiết) | mồng 3 tháng 10 | Đã mất — người trong họ xác nhận. Thứ bậc suy ra vì Hai là nhất lang, Phi là tam lang | ||
| Lê Công Phi | tam lang | Vợ: Trần thị Nga (còn sống). Tiêu đề sách ghi “con ông Trâm” | |||
| Lê thị Thanh Thúy | nhị nương | Sách ghi “lấy Suất Sáo” | |||
| Lê thị Thanh Vân | |||||
| Lê thị Thanh Hương | năm Giáp Tuất (1994) | Chỉ có ở bản ghi thứ hai và ghi chú ở lề | |||
| Đời 21 — chắt · con ông Lê Công Sách (ông Cội) | |||||
| Võ thị Bé | Chánh thất ông Sách | ||||
| Lê Võ Ánh Thi | 4-1998 | Họ ghép Lê + Võ (họ mẹ) | |||
| Võ thị Ánh Ly | 2002 | Ghi theo họ mẹ | |||
| Lê Võ Trung Nguyên | Họ ghép Lê + Võ | ||||
| Đời 21 — chắt · con ông Lê Công Phi | |||||
| Trần thị Nga | Vợ ông Lê Công Phi. Người trong họ cho biết bà còn sống | ||||
| Lê Trần Thảo Phương | Họ ghép Lê + Trần (họ mẹ) | ||||
| Đời 21 — chắt · con ông Lê Công Thuyên | |||||
| Ngô thị Thảo | Chánh thất ông Thuyên | ||||
| Lê thị Mộng Thúy | 1981 | ||||
| Lê thị Mộng Tuyền | 1985 | ||||
| Lê thị Mộng Tuyền | 1987 | Trùng tên người sinh 1985 — một trong hai có thể là Mộng Tuyến / Mộng Tuyên | |||
| Lê thị Mộng Trinh | 1989 | ||||
| Lê thị Mộng Trang | |||||
| Lê Công Tuấn Anh | |||||
| Lê Công Hoàng Phúc | |||||
| Đời 21 — chắt · con ông Lê Công Sơn | |||||
| Võ thị Thúy | Chánh thất ông Sơn. Họ “Võ” là thật — đối chiếu sách cùng lối viết | ||||
| Lê thị Diễm Mi | 16-12-1999 | Con ông Lê Công Sơn — chắt ông Điếu | |||
| Lê Công Tuấn Vũ | 2004 | Con ông Lê Công Sơn — chắt ông Điếu | |||
Bác hỏi nhánh con cháu của ông này. Tôi đã soát và trong sách không có nhánh nào. Đây là những gì tôi kiểm:
| Đời | Họ tên | Chữ Hán | Cha | Con cháu trong sách |
|---|---|---|---|---|
| 14 | Lê Công Hửu | 黎公休 | Lê Công Dĩ | 15 người, sâu 2 đời — đã vẽ đủ trên sơ đồ |
| 18 | Lê công Hửu | 公栯 (?) | Lê Công Huyên | Không có ai. Ghi 有名無位 |
| 19 | Lê Công Hửu (con ông Kiệm) | 黎公朽 | Lê Công Kiệm | Không có ai. Nhất lang, sách chỉ ghi tên và ngày giỗ 13 tháng 10 |
Ba chữ Hán khác nhau hẳn — 休 (hưu, nghỉ), một chữ Nôm bộ 木, và 朽 (hủ, mục) — nhưng bút xanh 1970 phiên cả ba thành “Hửu”. Trong dữ liệu tôi đã đặt tên hiển thị khác nhau cho ba người để về sau không tra lẫn nhau nữa.
Ở đời 18 sách có bốn người khác mà nhánh chạy tiếp — nhưng đều là họ hàng xa, không phải anh em ông Điếu:
Lê Công Hửu 黎公休 là con thứ hai của ông Lê Công Dĩ (đời 13), tức em ruột ông Lê Công Thích — cụ tổ trực hệ của nhánh ông Điếu. Vậy đây là nhánh bác chú gần nhất tách ra khỏi mạch trực hệ, ngay ở đời 14.
Về cái tên. Chữ Hán là 休, âm Hán-Việt chuẩn đọc “Hưu”. Nhưng bút xanh 1970 phiên là “Hửu” (có dấu hỏi) — tôi giữ cả hai và lấy cách nhà mình gọi làm tên chính. Lưu ý có hai người tên Hửu trong sách: ông này ở đời 14, và một người cháu xa ở đời 18 (anh của ông Điếu, chữ húy Nôm bộ 木) — hai người khác nhau, cách nhau bốn đời.
Cả nhánh chỉ có ba đời, và đi qua một người duy nhất:
Ông Hửu có năm người con, nhưng chỉ một người con trai — ông Lê Công Mạo. Bốn người còn lại đều là con gái, sách gọi 顯姑 hiển cô. Ông Mạo lại sinh mười người con: năm trai, năm gái. Nhưng không một ai trong mười người đó được sách chép con — kể cả ông Lê Công Duyệt, người duy nhất có ghi vợ (mà có tới hai bà). Nhánh dừng lại ở đời 16.
Chỗ dừng có bằng chứng chắc: ngay sau người thứ mười, sách mở một tiêu đề mới 公[?]之子 mà bút xanh phiên là “con ông Phú” — đó là nhánh ông Lê Công Huệ, không phải nhánh này. Nên phần chép về nhánh ông Hửu đóng lại tại đó.
| Đời | Thứ | Họ tên | Chữ Hán | Thứ bậc | Ngày giỗ |
|---|---|---|---|---|---|
| Đời 14 — con thứ hai ông Dĩ | |||||
| 14 | — | Lê Công Hửu | 黎公休 | nhị lang · hiển tổ | 18 tháng 4 |
| 14 | — | Nguyễn thị Yến | 阮氏燕 | nguyên phối | 25 tháng 2 |
| Đời 15 — năm người con · tiêu đề 公休 “con ông Hửu hồ xuống”, lề trên | |||||
| 15 | 1 | Lê thị Giản | 黎氏簡 | nhất nương · hiển cô | mồng 5 tháng 10 |
| 15 | 2 | Lê thị Đôi | 黎氏堆 | nhị nương · hiển cô | mồng 5 tháng 10 |
| 15 | 3 | Lê Công Mạo | 黎公帽 | nhất lang · hiển tổ | 24 tháng 8 |
| 15 | — | Hồ thị Suyền | 胡氏暢 | nguyên phối · nhị nương | sinh năm Giáp Tý |
| 15 | 4 | Lê thị Quyên | 黎氏絹 | tam nương · hiển cô | 21 tháng 4 |
| 15 | 5 | Lê thị Ứt | 黎氏[廿?] | tứ nương · hiển cô | 24 tháng chạp |
| Đời 16 — mười người con ông Mạo · tiêu đề 翁帽生下 “ông Mạo sinh hạ”, lề trên | |||||
| 16 | 1 | Lê công — không tên | 黎公有名無位 | nhất lang (suy ra) | 11 tháng 6 |
| 16 | 2 | Lê thị Bức | 黎氏幅 | nhất nương | mồng 9 tháng 6 |
| 16 | 3 | Lê thị — không tên | 黎氏有位無名 | nhị nương | 24 tháng 5 |
| 16 | 4 | Lê Công Tao | 黎公遭 | nhị lang | 13 tháng 6 |
| 16 | 5 | Lê Công Duyệt | 黎公悅 | tam lang | 25 tháng chạp |
| 16 | — | Nguyễn thị Biện | 阮氏詠 | chánh thất | |
| 16 | — | Lê thị — không rõ tên | 黎氏尹 | thứ thất | |
| 16 | 6 | Lê thị Hàm | 黎氏憾 | tam nương | mồng 5 tháng chạp |
| 16 | 7 | Lê Công Bể | 黎公拔 | tứ lang | 18 tháng 9 |
| 16 | 8 | Lê thị Thơ | 黎氏書 | tứ nương | 11 tháng 7 |
| 16 | 9 | Lê thị Phú | 黎氏賦 | ngũ nương | mồng 5 tháng chạp |
| 16 | 10 | Lê công — không tên | 黎公有位無名 | ngũ lang | 11 tháng 10 |
Bốn điều đáng chú ý:
Lần đọc này tìm thêm được một người con nữa của ông Huệ — ông Lê Công Tích 黎公籍, tứ lang, giỗ 27 tháng 6, chép trong sách. Trong dữ liệu cũ ông này bị để trống mục cha, chỉ ghi “đứng trước tiêu đề ông Tòng sinh hạ nên thuộc nhánh trước đó”.
Cứ liệu là dãy thứ bậc chạy liền một mạch qua năm trang, không ngắt ở đâu:
Và ngay sau ông Tích mới tới đầu mục 翁松[別]下 mở nhánh ông Tòng. Lề trên cột ông Tích không có đầu mục nào — tôi đã phóng to dải lề để chắc. Ông Tích còn có nhánh riêng: đầu mục 公籍之子 trong sách.
Đây là chỗ đáng kể nhất của lần đọc này. Dữ liệu cũ có hai người khác nhau: “ông Soang 檠” con ông Tích trong sách, và “ông Soán 算” chủ mục 公算之子 trong sách — người sau kéo theo một khối 45 người xuống tới đời 21 mà không gắn được vào đâu trong họ.
Phóng to chữ húy ấy lên ×6 thì thấy đó là 算 (竹 trên, 目 giữa, 廾 dưới) — cùng một chữ với đầu mục 公算之子, nơi lề trên có bút bi chua “Con công Soán”. Thêm nữa, danh sách 生下 bảy người ấy khớp gần như từng người với bảy người con đầu trong mục 公算之子:
| Sách chép gọn | Sách chép chi tiết |
|---|---|
| công Uông 公汪 | Lê Công Mông 黎公蒙 · nhất lang · sinh 19/4 Bính Thân |
| công Hành 公明 | Lê Công Minh 黎公明 · nhị lang |
| thị Liêu 氏耕 | Lê thị Diêu · nhất nương |
| công hữu vị vô danh | Lê công hữu vị vô danh · tam lang · giỗ 14 tháng 11 |
| công Hoàng 公梁 | Lê Công Hoang 黎公還 · ngũ lang · giỗ mồng 10 tháng 7 |
| công Phụng 公風 | Lê Công Phụng 黎公鳳 · tứ lang |
| công Thành 公盛 | Lê Công Thạnh 黎公盛 · lục lang |
Cùng một lối chép mà sách đã dùng với ông Cơ: danh sách gọn ở phần trên, rồi chép lại chi tiết kèm ngày sinh ở phần sau. Nên hai chỗ là một người. Các bản ghi “ông Soang” và bảy người con của ông đã bị xoá khỏi dữ liệu và gộp vào khối chép chi tiết.
Hệ quả: cả khối 45 người ấy — xuống tới các cháu sinh những năm 2000 — nay có chỗ trong họ: ông Huệ → ông Tích → ông Soán → …
Lề trên sách là đầu mục 公番之子 — chữ 番 (phiên), bút đỏ chua “Phiên công”, bút xanh chua “con”. Tức “con ông Phiên” — ông Lê Công Phiên 黎公番, con ông Tiết, chép trong sách. Bản đọc trước biến chính đầu mục ấy thành một người tên “ông Lê Công Phùn” rồi treo năm người con vào ông — cùng một loại lỗi với “ông Chúc” và “ông Soang”. Bản ghi ấy đã xoá; năm người (Đập · Đệ · Lễ · Hùng · Thển) nay gắn vào ông Phiên.
Và “Lê Công Đệ” chép bằng bút bi ở phần cuối sách cũng là chính ông Đệ ấy — hai người con cùng cha cùng tên là chuyện gần như không có, mà lối chép “danh sách Hán ở phần trên, chép lại chi tiết ở phần sau” thì sách đã dùng ba lần rồi. Nên vợ ông (Lê thị Tuyết Hằng) và con ông (Lê Công Nghị) nay treo vào đúng một người.
Bản đọc trước dựng cả trang ấy thành một nhà lạ, “ông Lê Công Sáp” cùng tám chín người, không gắn được vào đâu. Đọc lại thì trang ấy gồm ba phần, và không có ông Sáp nào cả:
Lề trên trang có bút bi chua “Con ông Mông” cho cả trang. Hai trong ba cột đúng là con ông Quý và con ông Châu — cháu ông Soán, đã vẽ từ trước. Cột còn lại ghi “Con ông Lê Công Biết” cùng vợ và ba con. Người con ông Mông mà tên có thể đọc thành “Biết” là ông chép ở “Lê Công Bin/Bình” nhị lang — nên tôi gắn năm người ấy vào đó, có ghi rõ là suy luận của bản đọc này, không phải chữ sách nói ra.
Nhánh này dài, và tôi chưa đọc lại toàn bộ ở ảnh gốc. Nói rõ để bác biết tin đến đâu:
Ông Thích (đời 14) có chín người con: bảy trai, hai gái. Ông Tòng — cụ tổ thẳng dòng của bác — là tam lang, người con trai thứ ba. Bác hỏi sáu người anh em trai còn lại có nhánh nào nữa không. Tôi đã đọc lại từng cột ở ảnh gốc. Câu trả lời gọn: chỉ hai người có nhánh — ông Huệ (anh cả) và ông Võ.
| Thứ bậc | Họ tên | Chữ Hán | Giỗ | Vợ | Con cháu trong sách |
|---|---|---|---|---|---|
| Nhất lang | Lê Công Huệ | 黎公惠 | 27 tháng giêng | Hồ thị Chiêm 胡氏帖 | CÓ NHÁNH LỚN NHẤT CẢ CUỐN. Đầu mục 公惠之子引下; bảy con ở đời 16, trong đó ông Phù · ông Tiết · ông Tích đều mở tiếp mục riêng. 132 người, nay đã vẽ |
| Nhị lang | Lê Công Loan | 黎公鸞 | 15 tháng 5 | — | Không có. Cột chỉ có tên và ngày giỗ. Không vợ, không 生下 — và cũng không có chữ “vô tự” |
| Tam lang | Lê Công Tòng | 黎公松 | mồng 10 tháng chạp | Hồ thị Thể 胡氏体 (bát nương) | Dòng thẳng của nhà mình. Năm con ở đời 16 — đã vẽ đủ trên sơ đồ |
| Tứ lang | Lê Công Văn | 黎公文 | 26 tháng 10 | — | Không có. Bút xanh 1970 chua thêm “Vô Tự” — nhưng đó là chữ quốc ngữ của người năm 1970, không phải chữ Hán của người chép gốc |
| Ngũ lang | Lê Công Võ | 黎公武 | 15 tháng 3 | Lê thị Dung 黎氏容 | CÓ NHÁNH. Đầu mục 公武之子; bảy con ở đời 16 — nay đã vẽ lên sơ đồ |
| Lục lang | Lê Công Tịnh | 黎公靖 | 19 tháng giêng | — | Không có. Bút xanh chua “Vô Tự”, còn khoanh ô vuông. Cũng là chữ bút xanh, không phải chữ Hán |
| Thất lang | Lê Công Cư | 黎公居 | 14 tháng 2 | — | Không có. Ngay sau cột của ông, sách đã sang mục “con ông Hửu” (ông Hửu đời 14). Không vợ, không con, không “vô tự” |
| Nhất nương | Lê thị Biền | 黎氏駢 | mồng 3 tháng 11 | — | Hiển cô 顯姑. Sách không chép con |
| Nhị nương | Lê thị Chút | chưa đọc được | mồng 9 tháng 2 | — | Hiển cô 顯姑. Sách không chép con |
Bốn người — Loan · Văn · Tịnh · Cư — đều dừng ở đấy. Nhưng sách nói về họ không giống nhau, và cái khác nhau ấy quan trọng cho việc thờ:
Đầu mục 公武之子 “con ông Võ” ở lề trên trang. Bảy người con, theo đúng thứ tự sách chép:
| Đời | Họ tên | Chữ Hán | Thứ bậc | Giỗ / ghi chú |
|---|---|---|---|---|
| 15 | Lê thị Dung | 黎氏容 | Nguyên phối · nhị nương | Vợ ông Võ. Sách không ghi giỗ |
| 16 | Lê thị Súy | 黎氏帥 | Nhất nương | Giỗ mồng 9 tháng 6. Bên cạnh có một chữ bút xanh đơn độc “Vô” |
| 16 | Lê Công Phan | 黎公港 | Nhất lang | Hán 港 âm chuẩn “Cảng”, bút xanh “Phan”. Không giỗ, không vợ, không con |
| 16 | Lê Công Triển | 黎公展 | Nhị lang | Giỗ mồng 2 tháng 8. Không vợ, không con |
| 16 | Lê Công Tuân | 黎公遵 | Tam lang | Không giỗ, không vợ, không con |
| 16 | Lê Công Xuân | 黎公春 | Tứ lang | Người duy nhất có cả vợ lẫn con. Không ghi giỗ |
| 16 | Thị Ngay (?) | 正堂氏有[?]娘 | Chánh thất · quý nương | Vợ ông Xuân. Giỗ mồng 8 tháng chạp. Phiên âm chưa chắc |
| 17 | Lê thị Qui | chưa nhận chắc | Con thứ 1 ông Xuân | Trong 生下 ở cột bà chánh thất |
| 17 | Lê thị Thu | 氏趣 | Con thứ 2 | Hán âm chuẩn “thú” |
| 17 | Lê thị Mừng | 氏明 | Con thứ 3 | Hán âm chuẩn “minh”. Bản đọc trước ghi “Nhưng” |
| 17 | Lê thị Chanh | 氏姑 (?) | Con thứ 4 | Chữ Hán này do bút xanh viết, không phải nét đen gốc |
| 17 | Lê Công Trí | 黎公智 | Nhất lang · con ông Xuân | Mục riêng 公春之子. Chữ húy và phiên âm đều bút đỏ. Sách ghi 娶妻 rồi 生下 rồi để trắng |
| 16 | Lê thị Tư | 黎氏思 | Nhị nương | Bút đỏ chua thêm “Tú”. Không ghi giỗ |
| 16 | Lê Công Long | 黎公竜 | Ngũ lang · con út | Giỗ 23 tháng 10. Một dòng bút bi ở lề: “Con Lê Công Long sinh hạ Lê Công Hoàng Vũ” |
Ông Huệ là anh cả. Đầu mục của ông trong sách viết 公惠之子引下 — “con ông Huệ, từ đây trở xuống”. Nhánh ông chạy dài nhất cả cuốn: sáu người con ở đời 16 (Phù · Luyến · Thứ · Tưởng · Tiết · Phiệt), rồi hai người trong số đó lại mở tiếp mục riêng — “con ông Phù” và “con ông Tiết” — và từ ông Phù còn xuống nữa qua ông Bút tới các tên bút bi hiện đại ở cuối sách. Ông Lê Công Tiết mà trang này đã có sẵn một mục là con ông Huệ, tức là bác chú xa hơn ông Nữu một bậc.
Nhánh này nay đã dựng lên sơ đồ — 132 người, năm đời, ba nhánh con. Xem mục “Nhánh ông Lê Công Huệ đời 15” ở ngay trên để biết phần nào đã đọc lại ở ảnh gốc và phần nào chưa. Vì nhánh này rộng, sơ đồ có thêm ô chọn “Xem một nhánh”: chọn Ông Huệ thì các nhánh khác thu về một thẻ.
Ông Lê Công Nữu 黎公杻 là con trai trưởng ông Tòng, tức anh cả ông Bản — cụ tổ thẳng dòng của bác. Vậy nên đây là nhánh bác ruột của dòng nhà mình, gần nhất trong tất cả các nhánh bàng hệ ở đời 16.
Sách chép nhánh ông ở hai chỗ cách xa nhau: phần chính (chữ Hán bút đen, phiên âm bút xanh 1970), rồi phần chép lại chi tiết kèm ngày sinh ở mãi cuối sách (nhiều chữ do bút đỏ điền sau). Nối được hai phần ấy lại chính là việc chính của lần đọc này.
| Đời | Họ tên | Chữ Hán | Thứ bậc | Giỗ / sinh |
|---|---|---|---|---|
| 16 | Lê Công Nữu | 黎公杻 | Nhất lang · hiển khảo | Giỗ mồng 8 tháng chạp |
| 16 | Trần thị Duy | 陳氏惟 | Chánh thất | Giỗ mồng 4 tháng 9 |
| 16 | Dương thị Tha | 楊氏他 | Kế thất · nhị nương | Giỗ mồng 2 tháng 7 |
| 17 | Lê Công Cơ | 黎公機 | Nhất lang | Giỗ mồng 2 tháng 2 |
| 17 | Hồ thị Lượng | 胡氏量 | Chánh thất · ngũ nương | Giỗ 19 tháng 3 |
| 17 | Lê công — sách không chép tên | 黎公有位無名 | Nhị lang | — |
| 17 | Lê thị — chưa đọc được tên | 黎氏[?] | Nhất nương | Giỗ 22 tháng chạp |
| 17 | Lê — chưa đọc được tên | 黎[血?]裙 | “Nhất vị” | — |
| 17 | Lê thị Tương | 黎氏相 (?) | Nhị nương | Giỗ 13 tháng 11 |
| 18 | Lê thị Quang | 氏桄 | Nhất nương | Giỗ ngày 19 |
| 18 | Lê thị Quyệt (hoặc Duyệt) | 氏橋 | Nhị nương | Sinh 24/11 Bính Tý |
| 18 | Lê Công Sung | 公椿 | Nhất lang | Sinh giờ dần 18/2 Thìn · mất 22/4 Tân Mùi |
| 18 | Ngô thị Liên | 吳氏蓮 | Chánh thất | — |
| 18 | Lê thị Lang | 黎氏桹 | Tam nương | Giỗ mồng 5 tháng 6 |
| 18 | Lê Công Kiệm | 黎公檢 | Nhị lang | Giỗ 15 tháng 3 |
| 19 | Lê thị Sa | 氏沙 | con ông Sung | — |
| 19 | Lê Công Sang | — | con ông Sung | — |
| 19 | Lê thị Sanh | 氏生 | con ông Sung | — |
| 19 | Lê thị Chữ | 黎氏杼 | Nhất nương · con ông Kiệm | Sinh 12/8 Ất Dậu (1945) |
| 19 | Lê Công Hửu | 黎公朽 | Nhất lang · con ông Kiệm | Giỗ 13 tháng 10 |
| 19 | Lê công — sách không chép tên | 黎公有位無名 | Nhị lang | Giỗ mồng 6 tháng 2 |
| 19 | Lê thị Luật | 黎氏楝 | Nhị nương | — |
| 19 | Lê Công Liễu | 黎公柳 | Tam lang | Sinh 14/2 Quý Tỵ |
| 19 | Lê thị — phiên âm chưa chắc | 黎氏檜 (?) | Tam nương | Sinh mồng 6 tháng giêng Đinh Dậu |
| 19 | Lê công — phiên âm chưa chắc | 黎公檀 (?) | Tứ lang | Sinh 20/6 Kỷ Hợi |
Nhánh ông Nữu là chỗ thấy rõ nhất bốn lớp bút của cuốn sách chồng lên nhau. Xin bác lưu ý khi dùng để làm giỗ:
Từ sách đến sách còn chép tiếp bằng bút bi hiện đại: vợ con của mấy người con ông Kiệm, có cả năm sinh dương lịch (1981 · 1982 · 1984 · 1985 · 1987 · 1989). Đây là người đang sống, nên tôi chưa đưa lên sơ đồ khi chưa đọc kỹ và chưa có người trong họ xác nhận — nguyên tắc của trang này là không bao giờ ghi một người còn sống vào chỗ người đã mất. Nếu bác muốn, lần sau tôi đọc tiếp đúng đoạn đó.
Một chỗ dễ lẫn: sách có “Lê Công Sang thứ 8 trai” cùng ba người con (Ái Linh 2003 · Kim Huệ · Ý Lộc). Người đó là con ông Lê Công Soán, thuộc nhánh khác, không phải ông Lê Công Sang con ông Sung ở nhánh này. Bản đọc trước đã xếp nhầm ba cháu ấy vào nhánh ông Nữu — nay đã tách ra.
Cả bảy người nằm trong một cột duy nhất trong sách, mở đầu bằng hai chữ 生下 sinh hạ. Cột này không ghi ngày giỗ, không ghi năm sinh, không ghi vợ chồng cho ai cả — chỉ có tên. Ông Điếu là người duy nhất trong bảy anh chị em có mục riêng ở chỗ khác.
Điều đáng chú ý nhất là bút. Trong bảy người, chỉ hai người có tên viết bằng nét đen gốc của người chép năm xưa; bốn người có tên do bút đỏ điền vào ô để trống về sau; và một người thì ô tên bỏ trống tới bây giờ.
| Thứ | Tên | Chữ Hán | Bút viết chữ húy | Ghi chú của sách | Độ chắc |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Lê thị Chu | 氏杼 | Bút đỏ | Trung bình | |
| 2 | Lê công Hửu | 公 + 木有 (?) | Nét đen gốc | 有名 hữu danh vô vỵ | Trung bình |
| 3 | Lê công — không tên | 公有名 | Bỏ trống | 有名 hữu danh vô vỵ | Cao |
| 4 | Lê thị Duật | 氏樨 (木+聿) | Nét đen gốc | Cao | |
| 5 | Lê Công Điếu | 公榔 | Bút đỏ | Có mục riêng | Cao |
| 6 | Lê thị Lôi (?) | 氏 + 木日 | Bút đỏ · lề dưới | Thấp | |
| 7 | Lê công Đong | 公 + 木旦 | Bút đỏ · lề dưới | Thấp |
Ba điều đọc ra được từ bảng này:
Còn ngỏ: tên người thứ 6. Bút đỏ viết bốn nét, đọc ra “Lôi” hay “Lơi” đều được; bản đọc đầu ghi “Tối”, một lượt khác ghi “Liễu” — không lượt nào xác nhận được. Chữ Hán bộ 木 ghép 日 cũng không cho manh mối chắc chắn. Chỗ này chỉ người trong họ biết.
Xin bác đưa các cụ xem đoạn này trước tiên. Ở sách, người con thứ hai của ông Lê Công Tiếu 黎公笑 (đời 17, nhánh ông Huệ) trước đây tài liệu này ghi là “không rõ tên”. Phóng ×4,5 thì chữ húy nét đen đọc rõ: 笏 (bộ 竹 trên, 勿 dưới) — Hốt — và bút xanh bên cạnh cũng phiên “Hốt.”. Chữ 竹 khớp đúng bộ chung của cả năm anh em ông Tiếu: 笑 箾 笛 筆 答.
Mà ở mục con ông Điếu lại có đầu mục 公[?]之子 mà bút đỏ chua “Điếu — con công”, và người con nhất lang của mục ấy cũng là 黎公笏 “Lê công Hốt”, giỗ 20 tháng 2, vợ Hồ thị Liên, năm người con: Thuyên · Lập · Khôn · Sơn · Sách. Đó là dòng của bác.
| Mục con ông Tiếu | Mục con ông Điếu |
|---|---|
| Ông Lê Công Tiếu 黎公笑, nhất lang, đời 17, con ông Phù | Đầu mục 公[?]之子 — chữ húy bị đường viền hoa văn đỏ in đè, không đọc được; bút đỏ chua “Điếu” |
| Vợ: Nguyễn thị Liên | Vợ ông Hốt: Hồ thị Liên |
| Con trai: 黎公笏 — bút xanh “Hốt.” | Con nhất lang: 黎公笏 — bút xanh “Lê công Hốt nhất lang” |
Nếu chữ húy trong đầu mục là 笑 thì ông Điếu và ông Tiếu là một người, và cả dòng của bác nối liền vào cây chính: ông Huệ (15) → ông Phù (16) → ông Tiếu (17) → ông Hốt (18) → ông Thuyên (19) → đời 20. Hai tên “Điếu” và “Tiếu” chỉ khác một phụ âm đầu, và “Điếu” cũng chỉ là chữ bút đỏ chua, không phải chữ Hán trong sách.
Tôi không gộp hai ông. Bốn lần trước, mỗi lần tôi tự nối theo suy luận là một lần dựng ra một ông cụ không tồn tại. Chỗ này cần hai thứ: chụp lại lề trên trang ấy (chụp chếch để tránh viền đỏ), và lời các cụ: ông Hốt cha bác Thuyên là con ông Tiếu ở làng, hay là con một ông Điếu khác.
Soát hai trang nặng nhất: (bảy người con ông Tiếu) và (vợ và bảy người con ông Bút). Số thẻ độ tin thấp trong cả tài liệu: 55 → 40.
| Trước | Sau khi đọc lại ảnh gốc |
|---|---|
| Lê Công — không rõ tên | Lê Công Hốt 黎公笏 — xem đoạn trên |
| Lê thị Bông 氏遷 | Lê thị Bông 氏蓬 (艹 + 逢) — chữ cũ sai, chữ mới khớp âm “Bông” |
| Lê thị Thụy 氏始 | Lê thị Thủy — 始 đọc “thủy”; dấu trên chữ u là hỏi hay sắc thì ảnh chưa phân được |
| Lê thị Hoa 氏糙 | Chữ 糙 bộ 米, không khớp. Húy thật là một chữ bút đỏ bộ 木 — để trống |
| Lê Công Thiên | Lê Công Thiêm — bút đỏ có chữ m |
| Nguyễn thị Tính | Nguyễn thị Đinh — chữ Đ có gạch, không có dấu; cũng có thể Đình/Đính |
| Lê thị Khiêm — độ tin thấp | Húy nét đen 謙 rõ, phiên “Khiêm” khớp — lên độ tin cao |
Một điều quan trọng bác nên biết: ở hai trang này, phần lớn tên người — cả chữ Hán lẫn chữ quốc ngữ — do bút đỏ điền vào những ô mà người chép gốc để trống. Bút đỏ là lớp muộn nhất, yếu nhất trong bốn lớp bút của cuốn sách. Nghĩa là: đọc lại ở ảnh gốc làm cho chữ tôi chép đúng hơn, nhưng không làm cho cái tên đáng tin hơn. Trần này do cây bút quy định, không phải do cái ảnh. Vì vậy mấy thẻ ấy dừng ở “trung bình”, không lên “cao”, dù tôi đã đọc rõ từng nét.
Trên sơ đồ, một đời đông như đời 18 hay đời 19 trải ngang hơn ba vạn điểm ảnh — nhìn thì thấy hình dáng, nhưng không đọc được chữ. Bảng này là chỗ để đọc: chọn đời ở ô trên sơ đồ để thấy họ nằm đâu trong cây, rồi xuống đây xem từng người.
Cột “độ tin” là mức chắc chắn của cái tên, không phải của việc người ấy có thật: cao là chữ Hán nét đen đọc rõ và bút xanh phiên khớp; trung bình là đọc được nhưng một trong hai lớp là bút đỏ, hoặc hai lớp không khớp nhau; thấp là chưa đọc lại ở ảnh gốc, hoặc cả chữ Hán lẫn phiên âm đều do bút đỏ điền sau.
| Tên | Chữ Hán | Thứ bậc | Cha | Sinh · giỗ | Độ tin |
|---|---|---|---|---|---|
| Đời 10 — 1 người | |||||
| Lê Công Viết | 黎公曰 | — | — | — | trung bình |
| Đời 11 — 1 người | |||||
| Lê Công Luận | 黎公論 | — | — | giỗ 27 tháng 11 | trung bình |
| Đời 12 — 2 người | |||||
| Lê Công Điệt | 黎公侄 | — | — | giỗ mồng 1 tháng 3 | cao |
| Hồ thị Thủ | 胡氏首 | — | — | giỗ 18 tháng 6 | cao |
| Đời 13 — 2 người | |||||
| Lê Công Dĩ | 黎公以 | nhất lang | Lê Công Điệt | giỗ mồng 4 tháng 5 | cao |
| Trương thị Tánh | 張氏性 | tam nương | — | giỗ 25 tháng 11 | cao |
| Đời 14 — 5 người | |||||
| Lê thị Thân | 黎氏親 | nhất nương | Lê Công Dĩ | giỗ 19 tháng 3 | cao |
| Lê Công Thích | 黎公戚 | nhất lang | Lê Công Dĩ | giỗ 28 tháng 5 | cao |
| Hồ thị Tỵ | 胡氏妣 | nhất nương | — | giỗ 23 tháng giêng | trung bình |
| Lê Công Hửu | 黎公休 | nhị lang | Lê Công Dĩ | giỗ 18 tháng 4 | cao |
| Nguyễn thị Yến | 阮氏燕 | — | — | giỗ 25 tháng 2 | cao |
| Đời 15 — 18 người | |||||
| Lê Công Huệ | 黎公惠 | nhất lang | Lê Công Thích | giỗ 27 tháng giêng | cao |
| Hồ thị Chiêm | 胡氏帖 | nhị nương | — | giỗ 26 tháng chạp | cao |
| Lê Công Loan | 黎公鸞 | nhị lang | Lê Công Thích | giỗ 15 tháng 5 | cao |
| Lê Công Tòng | 黎公松 | tam lang | Lê Công Thích | giỗ mồng 10 tháng chạp | cao |
| Hồ thị Thể | 胡氏体 | bát nương | — | giỗ 12 tháng 7 | cao |
| Lê Công Văn | 黎公文 | tứ lang | Lê Công Thích | giỗ 26 tháng 10 | cao |
| Lê Công Võ | 黎公武 | ngũ lang | Lê Công Thích | giỗ 15 tháng 3 | cao |
| Lê Công Tịnh | 黎公靖 | lục lang | Lê Công Thích | giỗ 19 tháng giêng | cao |
| Lê Công Cư | 黎公居 | thất lang | Lê Công Thích | giỗ 14 tháng 2 | cao |
| Lê thị Biền | 黎氏駢 | nhất nương | Lê Công Thích | giỗ mồng 3 tháng 11 | trung bình |
| Lê thị Chút | 黎氏乙 (?) | nhị nương | Lê Công Thích | giỗ mồng 9 tháng 2 | trung bình |
| Lê thị Dung | 黎氏容 | nhị nương | — | — | cao |
| Lê thị Giản | 黎氏簡 | nhất nương | Lê Công Hửu | giỗ mồng 5 tháng 10 | cao |
| Lê thị Đôi | 黎氏堆 | nhị nương | Lê Công Hửu | giỗ mồng 5 tháng 10 | cao |
| Lê Công Mạo | 黎公帽 | nhất lang | Lê Công Hửu | giỗ 24 tháng 8 | cao |
| Hồ thị Suyền | 胡氏暢 | nhị nương | — | sinh năm Giáp Tý | trung bình |
| Lê thị Quyên | 黎氏絹 | tam nương | Lê Công Hửu | giỗ 21 tháng 4 | cao |
| Lê thị Ứt | 黎氏乙 | tứ nương | Lê Công Hửu | giỗ 24 tháng chạp | trung bình |
| Đời 16 — 38 người | |||||
| Lê Công Phù | 黎公符 | nhất lang | Lê Công Huệ | giỗ 11 tháng 7 | cao |
| Nguyễn thị Sắc | 阮氏色 | nhất nương | — | giỗ 26 tháng 11 | cao |
| Lê thị Luyến | 黎氏戀 | nhất nương | Lê Công Huệ | giỗ 15 tháng 4 | trung bình |
| Lê thị Thứ | 黎氏恕 | nhị nương | Lê Công Huệ | giỗ 25 tháng 11 | trung bình |
| Lê thị Tưởng | 黎氏想 | tam nương | Lê Công Huệ | giỗ 13 tháng 11 | trung bình |
| Lê Công Tiết | 黎公節 | nhị lang | Lê Công Huệ | giỗ mồng 2 tháng 5 | trung bình |
| Võ thị Thui | 武氏退 | — | — | — | trung bình |
| Lê Công Phiệt | 黎公蘭 (?) | tam lang | Lê Công Huệ | giỗ 15 tháng chạp | trung bình |
| Lê Công Tích | 黎公籍 | tứ lang | Lê Công Huệ | giỗ 27 tháng 6 | cao |
| Trần thị — chưa đọc được tên | 正堂陳氏[?] | — | — | — | trung bình |
| Lê Công Nữu | 黎公杻 | nhất lang | Lê Công Tòng | giỗ mồng 8 tháng chạp | cao |
| Trần thị Duy | 陳氏惟 | — | — | giỗ mồng 4 tháng 9 | cao |
| Dương thị Tha | 楊氏他 | nhị nương | — | giỗ mồng 2 tháng 7 | trung bình |
| Lê thị Bá | 黎氏楉 | nhất nương | Lê Công Tòng | giỗ mồng 3 tháng 11 | trung bình |
| Lê thị Trạt | 黎氏極 | nhị nương | Lê Công Tòng | giỗ 27 tháng 6 | trung bình |
| Lê Công Bản | 黎公榜 | nhị lang | Lê Công Tòng | giỗ 16 tháng 4 | trung bình |
| Nguyễn thị Hàm | 阮氏金 | nhất nương | — | — | trung bình |
| Lê thị Nôi | 黎氏椒 | tam nương | Lê Công Tòng | — | thấp |
| Lê thị Súy | 黎氏帥 | nhất nương | Lê Công Võ | giỗ mồng 9 tháng 6 | trung bình |
| Lê Công Phan | 黎公港 | nhất lang | Lê Công Võ | — | trung bình |
| Lê Công Triển | 黎公展 | nhị lang | Lê Công Võ | giỗ mồng 2 tháng 8 | cao |
| Lê Công Tuân | 黎公遵 | tam lang | Lê Công Võ | — | trung bình |
| Lê Công Xuân | 黎公春 | tứ lang | Lê Công Võ | — | cao |
| Thị Ngay (phiên âm chưa chắc) | 正堂氏有[?]娘 | quý nương | — | giỗ mồng 8 tháng chạp | trung bình |
| Lê thị Tư | 黎氏思 | nhị nương | Lê Công Võ | — | thấp |
| Lê Công Long | 黎公竜 | ngũ lang | Lê Công Võ | giỗ 23 tháng 10 | cao |
| Lê công — hữu danh vô vị | 黎公有名無位 | nhất lang (suy ra) | Lê Công Mạo | giỗ 11 tháng 6 | cao |
| Lê thị Bức | 黎氏幅 | nhất nương | Lê Công Mạo | giỗ mồng 9 tháng 6 | cao |
| Lê thị — hữu vị vô danh | 黎氏有位無名 | nhị nương | Lê Công Mạo | giỗ 24 tháng 5 | cao |
| Lê Công Tao | 黎公遭 | nhị lang | Lê Công Mạo | giỗ 13 tháng 6 | cao |
| Lê Công Duyệt | 黎公悅 | tam lang | Lê Công Mạo | giỗ 25 tháng chạp | cao |
| Nguyễn thị Biện | 阮氏詠 | — | — | — | trung bình |
| Lê thị — không rõ tên | 黎氏尹 | — | — | — | thấp |
| Lê thị Hàm | 黎氏憾 | tam nương | Lê Công Mạo | giỗ mồng 5 tháng chạp | cao |
| Lê Công Bể | 黎公拔 | tứ lang | Lê Công Mạo | giỗ 18 tháng 9 | trung bình |
| Lê thị Thơ | 黎氏書 | tứ nương | Lê Công Mạo | giỗ 11 tháng 7 | cao |
| Lê thị Phú | 黎氏賦 | ngũ nương | Lê Công Mạo | giỗ mồng 5 tháng chạp | cao |
| Lê công — hữu vị vô danh | 黎公有位無名 | ngũ lang | Lê Công Mạo | giỗ 11 tháng 10 | cao |
| Đời 17 — 42 người | |||||
| Lê thị Cần | 黎氏懃 | nhất nương | Lê Công Phù | giỗ 23 tháng giêng | cao |
| Lê thị Hồng | 黎氏態 | nhị nương | Lê Công Phù | giỗ mồng 6 tháng 2 | trung bình |
| Lê Công Tiếu | 黎公笑 | nhất lang | Lê Công Phù | giỗ 15 tháng 6 | trung bình |
| Nguyễn thị Liên | 阮氏蓮 | chánh thất | — | — | trung bình |
| Lê Công Tiêu | 黎公箾 | nhị lang | Lê Công Phù | giỗ mồng 8 tháng giêng | trung bình |
| Lê Công Địch | 黎公笛 | tam lang | Lê Công Phù | giỗ mồng 9 tháng giêng | cao |
| Lê Công Bút | 黎公筆 | tứ lang | Lê Công Phù | giỗ mồng 3 tháng 9 | trung bình |
| Hồ thị Tình | 胡氏晴 | — | — | giỗ 28 tháng chạp | cao |
| Nguyễn thị Đinh | — | chánh thất | — | — | trung bình |
| Đoàn thị Dứt | — | vợ thứ | — | — | trung bình |
| Lê Công Đáp | 黎公答 | ngũ lang | Lê Công Phù | — | cao |
| Phan thị Hân | 潘氏欣 | — | — | — | cao |
| Lê thị Ngạo | 黎氏慠 | nhất nương | Lê Công Tiết | giỗ 25 tháng giêng | trung bình |
| Lê Công Trúc | 黎公築 | nhất lang | Lê Công Tiết | giỗ mồng 6 tháng 3 | trung bình |
| Lê Công Diệp | 黎公葉 | nhị lang | Lê Công Tiết | giỗ 24 tháng 7 | trung bình |
| Lê Công Trợ | 黎公勣 | tam lang | Lê Công Tiết | — | thấp |
| Võ thị Phòng | 武氏妨 | — | — | — | cao |
| Lê thị Trung | 黎氏忠 | nhị nương | Lê Công Tiết | giỗ 17 tháng 10 | trung bình |
| Lê Công Phiên | 黎公番 | tứ lang (bút xanh sửa: ngũ lang) | Lê Công Tiết | giỗ mồng 6 tháng chạp / 15 tháng 11 | thấp |
| Lê Công (hữu vị vô danh) | 黎公有位無名 | tứ lang | Lê Công Tiết | — | trung bình |
| Nguyễn thị Thức | 阮氏識 | nhất nương | — | — | trung bình |
| Lê Công Cơ | 黎公機 | nhất lang | Lê Công Nữu | giỗ mồng 2 tháng 2 | cao |
| Hồ thị Lượng | 胡氏量 | ngũ nương | — | giỗ 19 tháng 3 | cao |
| Lê Công (hữu vị vô danh) | 黎公有位無名 | nhị lang | Lê Công Nữu | — | trung bình |
| Lê thị — sách có tên, ảnh chưa đọc được | 黎氏[chữ Nôm bộ 木] | nhất nương | Lê Công Nữu | giỗ 22 tháng chạp | thấp |
| Lê (không rõ) | — | nhất vị | Lê Công Nữu | — | thấp |
| Lê thị Tương | 黎氏相 (?) | nhị nương | Lê Công Nữu | giỗ 13 tháng 11 | trung bình |
| Lê thị Thọ | 黎氏樹 | nhất nương | Lê Công Bản | giỗ 24 tháng chạp | cao |
| Lê thị Kha | 黎氏柯 | nhị nương | Lê Công Bản | sinh mồng 9 tháng 9 năm Kỷ Mùi | cao |
| Lê thị Gia | 黎氏枷 | tam nương | Lê Công Bản | sinh mồng 9 tháng giêng năm Tân Dậu | cao |
| Lê Công Huyên | 黎公桓 | nhất lang | Lê Công Bản | sinh 12 tháng 5 năm Giáp Tý | cao |
| Võ thị Thiện | 武氏善 | nhị nương | — | — | trung bình |
| Lê Công (hữu vị vô danh) | 黎公有位無名 | nhị lang | Lê Công Bản | giỗ tháng 6 | trung bình |
| Lê Công (hữu vị vô danh) | 黎公有位無名 | tam lang | Lê Công Bản | giỗ mồng 5 tháng chạp | trung bình |
| Lê thị (hữu vị vô danh) | 黎氏有位無名 | tứ nương | Lê Công Bản | giỗ 19 tháng 9 | trung bình |
| Lê thị (hữu vị vô danh) | 黎氏有位無名 | ngũ nương | Lê Công Bản | giỗ 28 tháng 9 | trung bình |
| Lê thị Qui | 氏鹽 (?) | con thứ 1 | Lê Công Xuân | — | trung bình |
| Lê thị Thu | 氏趣 | con thứ 2 | Lê Công Xuân | — | trung bình |
| Lê thị Mừng | 氏明 | con thứ 3 | Lê Công Xuân | — | trung bình |
| Lê thị Chanh | 氏姑 (?) | con thứ 4 | Lê Công Xuân | — | thấp |
| Lê Công Trí | 黎公智 | nhất lang | Lê Công Xuân | — | trung bình |
| Lê Công Soán | 黎公算 | nhất lang | Lê Công Tích | giỗ 12 tháng 9 | cao |
| Đời 18 — 66 người | |||||
| Lê thị Khiêm | 黎氏謙 | — | Lê Công Tiếu | — | cao |
| Lê Công Hốt (con ông Tiếu) | 黎公笏 | — | Lê Công Tiếu | — | trung bình |
| Lê thị Nho | — | — | Lê Công Tiếu | — | trung bình |
| Lê thị Thủy | 黎氏始 | — | Lê Công Tiếu | — | trung bình |
| Lê thị Bông | 黎氏蓬 | — | Lê Công Tiếu | — | cao |
| Lê thị Hoa | 黎氏[?] | — | Lê Công Tiếu | — | trung bình |
| Lê Công Toàn | 黎公[?] | — | Lê Công Tiếu | — | trung bình |
| Lê Công Đào | — | — | Lê Công Bút | — | trung bình |
| Lê Công Điển | — | — | Lê Công Bút | — | trung bình |
| Lê Công Thiêm | 黎公備 (bút đỏ) | — | Lê Công Bút | — | trung bình |
| Lê Công (hữu vị vô danh) | 公有位無名 | — | Lê Công Bút | — | trung bình |
| Lê thị Quế | 黎氏菊 (bút đỏ) | — | Lê Công Bút | — | trung bình |
| Lê thị Thơ | — | — | Lê Công Bút | — | thấp |
| Lê thị Nhàn | 黎氏妆 (bút đỏ) | — | Lê Công Bút | — | trung bình |
| Lê Công Nhân | 黎公忍 | nhất lang | Lê Công Đáp | — | trung bình |
| Lê thị Thua | 黎氏㫗 | nhất nương | Lê Công Đáp | — | trung bình |
| Lê thị Phu | 黎氏沙 | nhị nương | Lê Công Đáp | — | trung bình |
| Lê thị Thanh | 氏清 | nhất nương | Lê Công Trợ | — | trung bình |
| Lê thị Quang | 氏桄 | nhất nương | Lê Công Cơ | giỗ 19 (chưa rõ tháng) | cao |
| Lê thị Quyệt (hoặc Duyệt) | 氏橋 | nhị nương | Lê Công Cơ | sinh Bính Tý, 24 tháng 11 | thấp |
| Lê Công Sung | 公椿 | nhất lang | Lê Công Cơ | sinh giờ dần, ngày 18 tháng 2, năm Thìn · giỗ 22 tháng 4 năm Tân Mùi | trung bình |
| Lê thị Lang | 黎氏桹 | tam nương | Lê Công Cơ | giỗ mồng 5 tháng 6 | cao |
| Lê Công Kiệm | 黎公檢 | nhị lang | Lê Công Cơ | giỗ 15 tháng 3 | cao |
| Lê thị Chu | 氏杼 | con thứ nhất | Lê Công Huyên | — | trung bình |
| Lê công Hửu | 公栯 (hoặc 栢) | con thứ 2 | Lê Công Huyên | — | trung bình |
| Lê công — sách không chép tên | 公有名 | con thứ 3 | Lê Công Huyên | — | cao |
| Lê thị Duật | 氏樨 (木+聿) | con thứ 4 | Lê Công Huyên | — | cao |
| Lê Công Điếu | 公榔 | con thứ 5 | Lê Công Huyên | — | cao |
| Lê thị Lôi (?) | 氏 + [木+日] (bút đỏ, viết ở lề dưới) | con thứ 6 | Lê Công Huyên | — | thấp |
| Lê công Đong | 公 + [木+旦] (bút đỏ, viết ở lề dưới) | con thứ 7 | Lê Công Huyên | — | thấp |
| Lê Công Điếu | — | — | — | — | cao |
| Lê Công Lao | 黎公牢 | nhất lang | Lê Công Bút | — | cao |
| Lê Công Điêm | 黎公遲 | nhị lang | Lê Công Bút | sinh mồng 3 tháng 2 năm Mậu Tý / Kỷ Sửu | trung bình |
| Phan thị Hà | — | — | — | — | trung bình |
| Lê Công Thiêm | 黎公倫 | tam lang | Lê Công Bút | sinh mồng 5 tháng 2 năm Nhâm Thìn | trung bình |
| Hồ thị Hạng | — | — | — | — | trung bình |
| Nguyễn thị Hòa | — | — | — | — | trung bình |
| Lê Công (hữu vị vô danh) | 黎公有位無名 | tứ lang | Lê Công Bút | — | cao |
| Lê Công Thâu | — | ngũ lang | Lê Công Bút | sinh mồng 10 tháng 10 năm Kỷ Hợi | trung bình |
| Nguyễn thị Hạng | — | — | — | — | trung bình |
| Lê thị Chúc | 黎氏菊 | nhất nương | Lê Công Bút | sinh rằm tháng 10 năm Ất Mùi · giỗ mồng 4-5 tháng 6 | thấp |
| Lê Công Đập | — | nhất lang | Lê Công Phiên | giỗ 23 tháng 5 | trung bình |
| Lê Công Đệ | 黎公第 | nhị lang | Lê Công Phiên | sinh 23 tháng 5 năm Canh Tý | cao |
| Lê thị Lễ | 黎氏例 | nhất nương | Lê Công Phiên | giỗ 28 tháng 6 | trung bình |
| Lê thị Hùng | 黎氏雄 | nhị nương | Lê Công Phiên | sinh 12 tháng 2 năm Bính Ngọ | trung bình |
| Lê Công Thển | 黎公淩 | tam lang | Lê Công Phiên | giỗ mồng 6 tháng 9 | thấp |
| Lê Công Mông | 黎公蒙 | nhất lang | Lê Công Soán | sinh 19 tháng 4 năm Bính Thân | cao |
| Hồ thị Lụy | — | — | — | — | cao |
| Lê Công Minh | 黎公明 | nhị lang | Lê Công Soán | sinh tháng 7 năm Mậu Tuất | cao |
| Ngô thị Cường | — | — | — | — | cao |
| Lê thị Diêu | — | nhất nương | Lê Công Soán | sinh tháng 7 năm Canh Tý | trung bình |
| Lê Công (hữu vị vô danh) | 黎公有位無名 | tam lang | Lê Công Soán | giỗ 14 tháng 11 | cao |
| Lê Công Hoang (Hoàn) | 黎公還 | ngũ lang | Lê Công Soán | giỗ mồng 10 tháng 7 | trung bình |
| Lê Công Phụng | 黎公鳳 | tứ lang | Lê Công Soán | sinh 18 tháng 2 năm Giáp Thìn | cao |
| Dương thị Thẩm | — | — | — | — | cao |
| Lê Công Thạnh | 黎公盛 | lục lang | Lê Công Soán | sinh 14 tháng 4 năm Mậu Thân | trung bình |
| Văn thị Vân | — | — | — | — | trung bình |
| Lê Công Sang | — | con thứ 8 (trai) | Lê Công Soán | — | cao |
| Thái thị Nở | — | — | — | — | cao |
| Lê Công Hứt | — | — | Lê Công Soán | — | thấp |
| Nguyễn thị Hảo | — | — | — | — | trung bình |
| Ngô thị Liên | 吳氏蓮 | — | — | — | cao |
| Lê thị Tuyết Hằng | — | — | — | — | cao |
| Lê Công Diện | — | — | Lê Công Phiên | — | cao |
| Nguyễn thị Thùy Ly | — | — | — | — | trung bình |
| Lê thị Hồng | — | — | — | — | cao |
| Đời 19 — 73 người | |||||
| Lê Công Hốt | 黎公笏 | nhất lang | Lê Công Điếu | giỗ 20 tháng 2 | cao |
| Hồ thị Liên | 胡氏蓮 | nhất nương | — | — | cao |
| Lê Công Trâm | 黎公簪 | nhị lang | Lê Công Điếu | sinh mồng 10 tháng 6 năm Ất Mùi | cao |
| Hồ thị Nghi | — | — | — | — | trung bình |
| Lê thị Thiêng | — | nhất nương | Lê Công Điếu | giỗ 21 tháng 5 | trung bình |
| Lê thị Nhỏ | — | nhị nương | Lê Công Điếu | — | trung bình |
| Lê thị Thúy | 黎氏姶 | tam nương | Lê Công Điếu | giỗ 19 tháng 4 | trung bình |
| Lê thị Bồng | 黎氏蓬 | tứ nương | Lê Công Điếu | giỗ 23 tháng 11 | cao |
| Lê thị Hoa | 黎氏椛 | ngũ nương | Lê Công Điếu | sinh mồng 7 tháng 6 năm Kỷ Mùi (bút xanh ghi Quý Tỵ) | trung bình |
| Lê thị Duyên | — | — | Lê Công Điêm | — | trung bình |
| Lê Công An | — | — | Lê Công Điêm | — | trung bình |
| Lê thị Nhã An | — | — | Lê Công Điêm | — | trung bình |
| Lê Công Tòng (con ông Điêm) | — | — | Lê Công Điêm | — | trung bình |
| Lê thị Nhã Yến | — | — | Lê Công Điêm | — | trung bình |
| Lê Công Nhàn | — | — | Lê Công Thiêm | — | trung bình |
| Lê thị Hiền | — | — | Lê Công Thiêm | — | trung bình |
| Lê thị Mỹ Quyên | — | — | Lê Công Thiêm | — | trung bình |
| Lê thị Ý Nhật | — | — | Lê Công Thiêm | — | thấp |
| Lê Công Tuấn | — | — | Lê Công Thiêm | — | trung bình |
| Lê Nguyệt Quỳnh | — | — | Lê Công Thâu | — | trung bình |
| Lê Công Quý | — | nhất lang | Lê Công Mông | — | trung bình |
| Lê Công Bin (Bình?) | — | nhị lang | Lê Công Mông | — | thấp |
| Lê thị Tuyên | — | nhất nương | Lê Công Mông | — | cao |
| Lê thị Tuyến | — | nhị nương | Lê Công Mông | — | trung bình |
| Lê thị Phượng | — | tam nương | Lê Công Mông | — | cao |
| Lê thị Hoa | — | tứ nương | Lê Công Mông | — | cao |
| Lê Công Đại | — | tam lang | Lê Công Mông | — | cao |
| Lê thị Hiền | — | — | Lê Công Mông | — | trung bình |
| Lê thị Thúy Hằng | — | — | Lê Công Minh | — | cao |
| Lê Công Châu | — | — | Lê Công Minh | — | cao |
| Lê thị Hồng Phú | — | — | Lê Công Minh | — | cao |
| Lê thị Hoài Mỹ | — | — | Lê Công Minh | — | cao |
| Lê thị Thu Yến | — | — | Lê Công Minh | — | cao |
| Lê Công Tuyến | — | — | Lê Công Minh | — | cao |
| Lê (hữu vị vô danh) | — | — | Lê Công Phụng | giỗ mồng 8 tháng chạp | cao |
| Lê thị Loan | — | nhất nương | Lê Công Phụng | sinh 15 tháng 6 năm Nhâm Thìn | cao |
| Lê Công Hưng | — | nhị lang | Lê Công Phụng | sinh 24 tháng 7 năm Ất Mùi | cao |
| Lê Công Hào | — | — | Lê Công Phụng | — | cao |
| Lê thị Thu | — | — | Lê Công Phụng | — | cao |
| Lê thị Ái Diễm | — | nhất nương | Lê Công Thạnh | sinh 13 tháng 6 năm Ất Dậu | cao |
| Lê Công Tuấn | — | — | Lê Công Thạnh | sinh 12-6-2000 | cao |
| Lê Công Tiến Đạt | — | — | Lê Công Thạnh | sinh tháng 2 năm Bính Tuất (2006) | trung bình |
| Lê Công Tuân | — | — | Lê Công Thạnh | — | thấp |
| Lê thị Quyên | — | nhị nương | Lê Công Thạnh | — | thấp |
| Lê thị Ái Linh | — | (1) | Lê Công Sang | sinh 2003 | cao |
| Lê thị Kim Huệ | — | (2) | Lê Công Sang | — | trung bình |
| Lê Công Ý Lộc | — | (3) | Lê Công Sang | — | thấp |
| Lê thị Yến Nhi | — | — | Lê Công Hứt | — | cao |
| Lê thị Sa | 氏沙 | — | Lê Công Sung | — | trung bình |
| Lê Công Sang | — | — | Lê Công Sung | — | trung bình |
| Lê thị Sanh | 氏生 | — | Lê Công Sung | — | trung bình |
| Lê thị Chữ | 黎氏杼 | nhất nương | Lê Công Kiệm | sinh 12 tháng 8 năm Ất Dậu (1945) | trung bình |
| Lê Công Hửu (con ông Kiệm) | 黎公朽 | nhất lang | Lê Công Kiệm | giỗ 13 tháng 10 | trung bình |
| Lê Công (hữu vị vô danh) | 黎公有位無名 | nhị lang | Lê Công Kiệm | giỗ mồng 6 tháng 2 | cao |
| Lê thị Luật | 黎氏楝 | nhị nương | Lê Công Kiệm | — | trung bình |
| Lê Công Lâm | 黎公[?] | — | Lê Công Kiệm | — | thấp |
| Lê Công Nữu (con ông Kiệm) | — | — | Lê Công Kiệm | — | thấp |
| Hồ thị Bích | — | chánh thất | — | — | trung bình |
| Đinh thị Cúc | — | — | — | — | trung bình |
| Lê thị Gội | 黎氏檜 | tam nương | Lê Công Kiệm | sinh giờ Mùi, mồng 6 tháng giêng năm Đinh Dậu | trung bình |
| Lê Công Đang | 黎公槽 | tứ lang | Lê Công Kiệm | sinh giờ Mùi, ngày 20 tháng 6 năm Kỷ Hợi | trung bình |
| Nguyễn thị Lẽ | — | chánh thất | — | — | trung bình |
| Hoàng thị Tầm | — | vợ thứ | — | — | trung bình |
| Nguyễn thị Trang | — | — | — | — | cao |
| Lê Công Biết (tức ông Bin/Bình?) | — | — | Lê Công Mông | — | thấp |
| Hòa | — | — | — | — | thấp |
| Lê thị Tịnh | — | — | — | — | cao |
| Lê Công Nghị | — | — | Lê Công Đệ | — | trung bình |
| Lê Công Quốc | — | — | Lê Công Diện | — | cao |
| Lê Công Bình | — | — | Lê Công Diện | — | trung bình |
| Lê Công Định | — | — | Lê Công Diện | — | thấp |
| Lê thị Thanh Thảo | — | — | Lê Công Diện | — | cao |
| Lê thị (không rõ) | — | — | Lê Công Diện | — | thấp |
| Đời 20 — 35 người | |||||
| Lê Công Thuyên | 公銓 | — | Lê Công Hốt | — | cao |
| Lê thị Lập | 氏立 | — | Lê Công Hốt | giỗ 21 tháng 3 | trung bình |
| Lê thị Khôn | 氏坤 | — | Lê Công Hốt | — | thấp |
| Lê Công Sơn | 公山 | — | Lê Công Hốt | — | cao |
| Lê Công Sách | 公策 | — | Lê Công Hốt | — | trung bình |
| Lê Công Hai | — | nhất lang | Lê Công Trâm | sinh 1979 | cao |
| Lê thị Thanh Hà | — | nhất nương | Lê Công Trâm | sinh 1981 | cao |
| Lê Công Phúc | — | — | Lê Công Trâm | giỗ mồng 3 tháng 10 | cao |
| Lê Công Phi | — | tam lang | Lê Công Trâm | — | cao |
| Lê thị Thanh Thúy | — | nhị nương | Lê Công Trâm | — | cao |
| Lê thị Thanh Vân | — | — | Lê Công Trâm | — | cao |
| Lê thị Thanh Hương | — | — | Lê Công Trâm | sinh Giáp Tuất (1994) | trung bình |
| Lê thị Bích | — | — | — | — | trung bình |
| Lê thị Yến | — | nhất nương | Lê Công Nữu (con ông Kiệm) | — | cao |
| Lê Công Long | — | — | Lê Công Nữu (con ông Kiệm) | — | cao |
| Lê thị Thúy | — | — | Lê Công Nữu (con ông Kiệm) | — | cao |
| Lê thị Thu Thanh | — | — | Lê Công Nữu (con ông Kiệm) | — | trung bình |
| Lê Công An | — | — | Lê Công Nữu (con ông Kiệm) | — | cao |
| Lê thị Thảo | — | — | Lê Công Nữu (con ông Kiệm) | — | cao |
| Lê thị Bít | — | — | Lê Công Lâm | — | trung bình |
| Lê thị Dần | — | nhất nương | Lê Công Đang | — | cao |
| Lê Công Đồng | — | nhất lang | Lê Công Đang | — | cao |
| Lê thị Tố | — | nhị nương | Lê Công Đang | — | cao |
| Ngô thị Thảo | — | — | — | — | cao |
| Võ thị Thúy | — | — | — | — | cao |
| Võ thị Bé | — | — | — | — | trung bình |
| Lê Công Đôi | — | đệ I | ông Đẹp | — | trung bình |
| Hoàng thị Yến Chi | — | — | — | — | trung bình |
| Trần thị Nga | — | — | — | — | cao |
| Lê Nguyễn thị Bảo Trân | — | — | Lê Công Quý | — | cao |
| Lê Nguyễn Công Bảo | — | — | Lê Công Quý | — | cao |
| Lê thị Mỹ Duyên | — | — | Lê Công Biết (tức ông Bin/Bình?) | — | cao |
| Lê Tuyết Sao | — | — | Lê Công Biết (tức ông Bin/Bình?) | — | trung bình |
| Lê Anh Thư | — | — | Lê Công Biết (tức ông Bin/Bình?) | — | trung bình |
| Lê thị Cẩm Ly | — | — | Lê Công Châu | — | cao |
| Đời 21 — 18 người | |||||
| Lê Công Hoàng Vũ | — | — | Lê Công Long | — | cao |
| Lê thị Nhi | — | — | Lê Công Đồng | sinh 1992 | trung bình |
| Lê Công Phong | — | — | Lê Công Đồng | sinh 1994 | trung bình |
| Lê thị Mộng Thúy | — | — | Lê Công Thuyên | sinh 1981 | cao |
| Lê thị Mộng Tuyền | — | — | Lê Công Thuyên | sinh 1985 | trung bình |
| Lê thị Mộng Tuyền (2) | — | — | Lê Công Thuyên | sinh 1987 | thấp |
| Lê thị Mộng Trinh | — | — | Lê Công Thuyên | sinh 1989 | cao |
| Lê thị Mộng Trang | — | — | Lê Công Thuyên | — | cao |
| Lê Công Tuấn Anh | — | — | Lê Công Thuyên | — | cao |
| Lê Công Hoàng Phúc | — | — | Lê Công Thuyên | — | cao |
| Lê thị Diễm Mi | — | — | Lê Công Sơn | sinh 16-12-1999 | cao |
| Lê Công Tuấn Vũ | — | — | Lê Công Sơn | sinh 2004 | cao |
| Lê Võ Ánh Thi | — | — | Lê Công Sách | sinh 4-1998 | thấp |
| Võ thị Ánh Ly | — | — | Lê Công Sách | sinh 2002 | trung bình |
| Lê Võ Trung Nguyên | — | — | Lê Công Sách | — | trung bình |
| Lê Công Hoàng Bách | — | — | Lê Công Đôi | — | cao |
| Lê Hoàng Bảo Trân | — | — | Lê Công Đôi | — | trung bình |
| Lê Trần Thảo Phương | — | — | Lê Công Phi | — | cao |
| Chưa xếp được đời — 50 người (khối chưa gắn được vào ai) | |||||
| Lê Công Tiên (Tín?) | 黎公信 | — | — | giỗ mồng 1 tháng 3 | trung bình |
| Hồ thị Thủ | 胡氏首 | — | — | giỗ 18 tháng 6 | trung bình |
| Trần thị Tình — chưa gắn được chồng | 正堂陳氏惜 | — | — | — | thấp |
| Lê Công Diêu | 黎公鑯 | tứ lang | — | sinh 12 tháng 10 năm Kỷ Dậu | trung bình |
| Lê Công Nhơn | — | — | ông Thanh | — | cao |
| Lê thị Hồng | — | — | ông Thanh | — | cao |
| Lê thị Hiếu | — | — | ông Thanh | — | trung bình |
| Lê thị Hiền | — | — | ông Thanh | — | cao |
| Lê thị Ngọc Duyên | — | — | ông Thanh | — | cao |
| Lê thị Náu | — | — | ông Thanh | — | thấp |
| Lê Công Tuấn | — | — | ông Thanh | — | cao |
| Hồ thị Hạnh | — | — | — | — | thấp |
| Nguyễn thị Hoa | — | — | — | — | thấp |
| Lê thị Nguyệt Quỳnh | — | — | ông Thoại | — | cao |
| Ngô thị Hạnh | — | — | — | — | trung bình |
| Hồ Lăng | — | — | — | — | thấp |
| Lê Công Hoàng (không rõ) | — | — | — | — | thấp |
| Lê Công Hoàng Bảo | — | — | — | — | trung bình |
| Lê Công An | — | — | — | — | cao |
| Lê Nguyễn thị Tình | — | — | — | — | thấp |
| Lê thị Bảo Trâm | — | — | Lê Công An | — | cao |
| Lê Công Thọ | — | — | — | — | trung bình |
| Võ thị Phượng | — | — | — | — | cao |
| Hà thị Thắm | — | — | — | — | cao |
| Lê thị Thông | — | — | Lê Công Thọ | — | thấp |
| Lê thị Thu | — | — | Lê Công Thọ | — | thấp |
| Lê Công Thanh | — | — | Lê Công Thọ | — | trung bình |
| Phạm thị Kim | — | — | — | — | cao |
| Lê Công Tuấn | — | — | Lê Công Thanh | — | cao |
| Lê thị Huệ | — | — | Lê Công Thanh | — | cao |
| Lê Công Hưng | — | — | Lê Công Thanh | — | cao |
| Lê thị Hương Anh | — | — | Lê Công Thanh | — | cao |
| Lê thị Thao | — | — | Lê Công Thọ | — | trung bình |
| Lê Công Thang | — | — | Lê Công Thọ | — | thấp |
| Lê Công Tiến | — | — | Lê Công Thọ | — | trung bình |
| Lê thị Thắng | — | — | Lê Công Thọ | — | thấp |
| Lê Công An | — | — | ông Xiển | — | cao |
| Huỳnh thị Út Mận | — | — | — | — | cao |
| Lê Công Tấn Đạt | — | — | Lê Công An | — | cao |
| Lê Công Tấn Tài | — | — | Lê Công An | — | cao |
| Lê Công Tấn Phát | — | — | Lê Công An | — | cao |
| Lê Công Tùng | — | — | ông Xiển | — | trung bình |
| Lê Võ Phương Vi | — | — | Lê Công Tùng | — | cao |
| Lê Công Nhân | — | — | ông Khoai | — | cao |
| Phan thị Hằng | — | — | — | — | cao |
| Lê Xuân Nghi | — | — | Lê Công Nhân | — | cao |
| Lê Công Nghĩa | — | — | Lê Công Nhân | — | trung bình |
| Lê Công Tuấn | — | — | ông Khoai | — | cao |
| Nguyễn Kiều Oanh | — | — | — | — | trung bình |
| Lê Nguyễn Hà Phương | — | — | Lê Công Tuấn | — | cao |
Đây là câu quan trọng nhất trong cả bảng này. sách mở mục “con ông Điếu” rồi kể ông Lê Công Hốt 黎公笏, nhất lang, giỗ 20 tháng 2, vợ Hồ thị Liên. Sách lại có một ông Lê Công Hốt 黎公笏 là con ông Lê Công Tiếu 黎公笑 (đời 17, nhánh ông Huệ). Hai ông Hốt ấy là một người hay hai người? Nếu là một thì cả dòng ông Điếu → ông Hốt → bác Thuyên nối liền vào cây chính. Chữ húy trong đầu mục bị viền hoa văn đỏ in đè, không đọc được.
Sách có cột 正室 “Chánh thất — Hồ thị Bích” và sáu người con. Cạnh đó có dòng bút bi chua “Vợ công Nữu”. Nhưng xét vị trí thì khối ấy đứng ngay sau cột cuối, là ông Lê Công Liễu (tam lang). Bà là vợ một ông tên Nữu, hay là vợ ông Liễu và “Nữu” chỉ là tên thường gọi?
Ông Lâm lộ ra từ một cột ở giữa trang (chữ húy bộ 木, chưa đọc ra) và dòng chua “Vợ công Lâm · Đinh thị Cúc”. Ông đứng thứ mấy, và chữ húy là chữ gì? Vợ là bà Đinh thị Cúc, con là bà Lê thị Bít.
Ở, người viết viết một tên rồi gạch đi — chữ bị gạch đọc như “Hảo” — rồi viết “Bít” bên dưới. Tên nào là tên bà dùng?
Cột 生下 sách viết ba dòng “Thị / Thu / Thanh”. Tôi hiểu là một người tên Lê thị Thu Thanh, vì mọi người khác trong cột đều mở đầu bằng “Thị” hoặc “Công”. Nếu là hai người thì cột này có bảy người con, không phải sáu.
Hai tên viết bằng bút bi, sinh 1992 và 1994. Sách không ghi cha. Tôi xếp làm con ông Lê Công Đồng vì hai người mang họ Lê và năm sinh khớp một đời sau ba người con kia — nhưng đó là suy luận của tôi.
Chánh thất ông Lê Công Bút, sách. Tên do bút đỏ điền, chữ Đ có gạch mà không có dấu thanh. Bút đỏ ở cả trang này điền tên cho gần hết bảy người con ông Bút — bác hỏi các cụ giúp cả bảy tên luôn: Đào · Điển · Thiêm · Quế · Thơ · Nhàn.
Anh ông Điếu, sách chỉ ghi tên rồi 有名無位 “hữu danh vô vỵ” — không vợ, không con, không ngày giỗ. Công thức đó thường dành cho người mất trước khi lập gia đình, nhưng sách không nói ra. Trong họ có ai còn nhớ về ông không — mất năm nào, có ngày giỗ riêng không?
Sách ghi vợ ông Lê Công Hửu là Nguyễn thị Yến, kèm 改嫁 cải giá và bút xanh chua “Vô Tự” 無嗣. Nhưng sách mở tiêu đề 公休 “con ông Hửu hồ xuống” rồi kể năm người con. Năm người con đó là của ai? Nhiều khả năng của một người mẹ sách không chép tên — nhưng đó là suy luận, không phải chữ trên giấy.
Bà Lê thị Giản và bà Lê thị Đôi (con ông Hửu) cùng giỗ mồng 5 tháng 10; bà Lê thị Hàm và bà Lê thị Phú (con ông Mạo) cùng giỗ mồng 5 tháng chạp. Sách ghi rõ ở cả bốn chỗ. Trùng thật, hay người chép nhìn lộn dòng?
Trang đọc ở ảnh gốc thì rõ: một ông nhất lang, chữ húy 桓 do bút đỏ điền, sinh 12 tháng 5 năm Giáp Tý, vợ Võ thị Thiện, 生下 bảy người con — người thứ năm là 公榔 ông Điếu. Ông ấy lại là nhất lang trong dãy tám con ông Bản. Vậy trang sách đặt Bản → Huyên → Điếu.
Lời tựa 1970 ký “trưởng chi: Lê công Tiếu · á chi: Lê công Huyên”. Trước đây tôi đọc chữ ấy là “Điếu” — đọc sai. Phóng to nét bút ở ảnh gốc thì chữ đầu của tên là t, cùng một nét với chữ “t” trong “trưởng” và “Thành” ngay trên cùng trang; chữ Đ của người viết này có bầu tròn, như trong “Điền Thành”. Hai nét khác nhau rõ. Vậy người ký cùng ông Huyên là ông Tiếu.
Đọc như vậy thì mọi thứ khớp gọn: ông Tiếu là con ông Phù, cháu ông Huệ — ông Huệ là anh cả trong chín người con ông Thích, nên đó là ngành trưởng; ông Huyên là con ông Bản, cháu ông Tòng — ông Tòng là con thứ ba, ngành sau. Hai ông cùng ở đời 17, nên “trưởng chi” và “á chi” đúng là hai chi ngang nhau. Nếu vậy thì ông Điếu (đời 18) không phải ông Tiếu, và sơ đồ nhà mình thuộc á chi, không phải trưởng chi.
Còn vướng một chỗ: nếu ông Huyên sinh Giáp Tý 1864 và mất năm Nhâm Thân 1932 (theo dòng bút xanh nhạt bên cạnh) thì ông đã mất trước 1970, không ký được. Có thể người ký năm 1970 là một người khác cùng tên — sách này có sẵn tiền lệ trùng tên. Xin các cụ phân xử. Sơ đồ tạm giữ Bản → Huyên → Điếu.
Sách gọi ông Điệt 顯高曾祖 (cao tằng tổ), ông Dĩ 顯曾祖 (tằng tổ), ông Bản 顯考 (cha) — thang bậc này khớp nếu người viết là con ông Bản. Nhưng cả ông Thích và ông Tòng đều ghi 顯祖 hiển tổ, mà hai ông là cha con. Hoặc chữ đó dùng lỏng theo nghĩa “tổ tiên”, hoặc có chỗ lệch một đời. Tôi để ngỏ.
Đã tìm được chỗ đứng của ông: sách ghi ông là người con thứ năm trong bảy người con của một ông nhất lang, sinh năm Giáp Tý, vợ là Vũ thị Thiện. Nhưng tên người cha thì chưa đọc được — chữ Hán bộ 木 viết bằng bút đỏ, chữ quốc ngữ phiên bắt đầu bằng “H”, có thể là Huyên, Huyền hoặc Hoàn.
Lề trên trang nay đọc được là 公榜 — bút xanh cùng chỗ viết “con Bản công”. Chỗ còn ngỏ là tiêu đề áp từ cột nào trở đi. Trang này có ba cột: 一位, rồi 二娘, rồi 一娘 (Lê thị Thụ). Tôi cho rằng tiêu đề áp từ cột 一娘 trở đi, vì như vậy mới ra đúng thứ tự 一娘 → 二娘 → 三娘 → 一郎 → 二郎 → 三郎 → 四娘 → 五娘 chạy tiếp sang các trang sau. Hai cột bên phải thuộc nhánh trước đó. Đây là lập luận theo thứ tự, không phải chữ trên giấy.
Sách ghi 公春之子 “con ông Xuân”, kể con đầu là 黎公智 Lê Công Trí có cưới vợ và 生下 — nhưng danh sách con để trống. Đọc liền trang thì con ông Trí phải nằm ngay sau đó, tức ông Hốt sẽ là con ông Trí chứ không phải con ông Điếu. Bằng chứng nét bút đỏ nghiêng về “ông Điếu”; nhiều khả năng chỗ đó mất trang hoặc tờ bị đóng lẫn. Đây là suy luận, không phải chữ trên giấy.
Bà là nhất nương, giỗ 22 tháng chạp (chỗ này đọc chắc, cả Hán lẫn bút xanh đều ghi vậy). Nhưng phiên âm tên bà thì chưa đọc được: nó nằm sát gáy sách, một phần bị ngón tay che, phần còn lại ảnh nhoè. Nhờ bác chụp lại mép trái trang ấy, để sát và ánh sáng chếch.
Cột chép 黎[血?]裙一位. Bút xanh đọc được ba chữ cuối “… Quần nhất vỵ”, chữ giữa mờ — có thể “Huyết” (theo 血) hoặc “Nguyệt”. Chưa rõ tên, cũng chưa rõ nam hay nữ. Trong họ có ai nhớ một người tên Quần không?
Con thứ hai ông Cơ. Cả chữ Hán lẫn phiên âm đều do bút đỏ điền, viết thảo: đọc được “uyệt”, còn chữ đầu Q hay D thì không phân được. Chữ Hán 橋 lại đọc “kiều”, không khớp cả hai.
Tam nương 黎氏檜(?) sinh mồng 6 tháng giêng Đinh Dậu, và tứ lang 黎公檀(?) sinh 20 tháng 6 Kỷ Hợi. Cả chữ Hán lẫn phiên âm đều bút đỏ, đọc như “Hới” và “Đang/Đàng” nhưng chưa đủ chắc để ghi thành tên. Hai người này gần với đời còn sống — trong họ chắc còn người nhớ.
Húy ông Cơ là 機 — chữ rõ, không tranh chấp. Nhưng phiên “Cơ” là theo chữ Hán, không phải đọc ra được từ bút xanh (chữ viết thảo quá). Bà con út thì bút xanh ghi rõ “Tương”, còn chữ Hán bản đọc trước chép 祖, đọc lại thì hợp với 相 hơn. Nhờ người biết chữ Hán trong họ xem giúp.
Ngay dưới “hiển tổ Lê Công Võ ngũ Lang” trong sách, bút xanh 1970 viết thêm ba chữ, đọc được là “Đã có Nay”. Chữ rõ, nghĩa thì không: có thể là “đã có [con cháu đến] nay”, có thể là tên người hoặc tên đất. Trong họ có ai giải được không?
Hai ông (nhị lang, thất lang, đời 15) chỉ có tên và ngày giỗ. Không vợ, không con, và cũng không có chữ “vô tự” như hai ông Văn và Tịnh. Đây là khoảng trống, không phải câu trả lời. Trong họ có ai còn nhớ hai ông có con cháu hay không?
sách, cạnh cột “hiển cô Lê thị Súy nhất nương” có một chữ bút xanh đơn độc “Vô”. Rất có thể là đầu chữ “vô tự”, nhưng chữ sau không thấy. Chưa đủ để ghi thành sự thật.
sách, chữ Hán 正堂氏有[?]娘; bút xanh phiên “chánh thất thị … quý nương”, chữ tên viết thảo, đọc như “Ngay” hoặc “Ngãi”. Bà là mẹ của bốn người con gái ông Xuân, nên tên bà đáng để hỏi cho ra.
Dòng ấy viết “Con Lê Công Long sinh hạ Lê Công Hoàng Vũ”, nhưng nằm lạc trong mục ông Kiệm (nhánh ông Nữu), cách nhánh ông Võ rất xa. Cả cuốn chỉ có một ông Long — ngũ lang con ông Võ — nên trang này tạm gắn vào ông ấy. Cần người trong họ xác nhận có phải cùng một người.
Trang này đã gộp hai người thành một — và cả 45 người ở đời 18–21 treo vào đúng mối nối ấy. Cứ liệu: chữ húy ở phóng to ×6 là 算, cùng chữ với đầu mục; danh sách bảy người con ở hai chỗ khớp nhau; lề có bút bi chua “Con công Soán”. Nhưng đây vẫn là suy luận của bản đọc này, không phải chữ sách nói ra. Nhờ người trong họ xác nhận ông Soán ở Tân Mỹ / Quảng Vinh có phải là con ông Tích không.
sách, cột 正堂陳氏[?] — họ Trần thì rõ, chữ tên chưa đọc chắc. Đừng lẫn với bà Trần thị Duy 陳氏惟 vợ ông Nữu: hai bà khác nhau, hai nhánh khác nhau.
sách, chữ Hán 正室武氏退. Bút xanh phiên như “Võ thị Thui”, bút đỏ chua lại một chữ khác; âm Hán-Việt của 退 là “thoái/thối”. Bên cạnh có mấy chữ về mộ, đọc như “Mộ Táng Tại Tứ Đội Nội” — cũng chưa chắc.
Trang (ông Sáp · ông Đề · thị Mễ …), (ông Phùn và năm con), (“con ông Thanh”, “con ông Thoại”), (ông Thọ và con cháu), (“con ô Xiển”, “con ô Khoai”). Có người trùng tên với người trong nhánh ông Huệ — ba ông “Lê Công An”, ba ông “Lê Công Tuấn” — nên tôi không dám nối theo tên. Trong họ có ai biết mấy ông Thanh · Thoại · Xiển · Khoai · Phùn · Thọ là con cháu nhà nào không?
Ngay sau hai cột vợ ông Duyệt là một cột gồm ba mục 氏 + chữ húy do bút đỏ điền, phiên âm bút xanh đọc được “thị Hôi (?) · thị Gái · thị Hồng”. Theo lối chép của sách thì đó là ba con gái ông. Nhưng cả ba đều thuộc lớp bút đỏ — lớp có giá trị chứng cứ thấp nhất — nên tôi chưa vẽ thành ba người. “Gái” và “Hồng” là tên nghe rất gần đời nay, trong họ chắc còn người biết. Cũng nhờ bác chụp lại đoạn giữa trang cho rõ.
Bà Ứt (con ông Hửu, ) và bà Chút (con ông Thích, ) có chữ húy cùng một dạng, đọc được là 乙 (ất). Và cả hai bà đều là con gái út của nhà mình. Rất có thể đây là chữ Nôm mượn âm để ghi “ÚT”, tức không phải tên riêng mà là “con gái út”. Nếu đúng thì hai bà chưa có tên trong sách. Nhờ người biết chữ Hán trong họ xem giúp.
Sách chép 妻胡元妣一娘 — “vợ họ Hồ, nguyên tỷ, nhất nương”. 元妣 là chức danh (“người vợ trước đã mất”), không phải tên riêng. Bút xanh 1970 phiên là “Hồ thị Tỵ” — “Tỵ” chính là âm của chữ 妣 ấy. Nên có thể bà không có tên trong sách, và “Tỵ” chỉ là người năm 1970 đọc chức danh thành tên.
Soát toàn bộ 351 bản ghi, có sáu cái tên chỉ xuất hiện đúng một lần — trong chính dòng chú “con ông …” ở cuối sách — và không có mục riêng ở bất cứ trang nào: ông Thanh · ông Thoại · ông Xiển · ông Khoai · ông Đẹp · ông Lâm. Vì thế khoảng 40 người con cháu họ không nối được vào cây. Đây là chỗ đọc ảnh không giải được nữa — chỉ người trong họ mới biết mấy ông ấy là con cháu nhà nào.
Ghi cạnh tên Lê thị Thanh Thúy. Chữ rõ, nghĩa thì không: có thể là tên người, tên làng, hoặc tên nhà.
Bút chì đã mờ, đọc được là “Cường Giáng Đông” — cũng có thể là “Cương Giáng Đông”.
Chữ Hán ghi 己未年六月初七日 (Kỷ Mùi, mồng 7 tháng 6), bút xanh lại ghi Quý Tỵ, 21 tháng giêng. Hai lớp bút không khớp nhau.
Những ngày viết dạng số gạch chéo là âm lịch hay dương lịch? Các ngày viết bằng chữ (“19 tháng Tư”) thì gần chắc là âm lịch.